Tìm kiếm trong Blog này

8 tháng 10, 2008

Bức Ảnh Gây Nhiều Tranh Cải...


1 Bức Ảnh Gây Nhiều Tranh Cãi !


Bức sơn dầu “Bắc Kinh 2008” đang được trưng bày tại Triển lãm nghệ thuật New York. Năm 2008, Bắc Kinh sẽ đăng cai tổ chức Olympic Games. Bức tranh này cũng miêu tả một Game truyền thống của Trung Hoa là Mạt chược. Nhiều dư luận ở Trung Quốc và Đài Loan cho rằng, những cô gái trong tranh đại diện cho những thế lực cạnh tranh trong cuộc chơi toàn cầu hoá đầu thế kỷ 21 mà tâm điểm là Trung Quốc.



Cách giải thích thứ nhất in trên tờ Nam Phương Châu Báo thì cho rằng: Chân dung người treo trên tường ở góc trái tranh, nếu nhìn kỹ sẽ thấy vừa quen vừa lạ. Phóng to bức tranh lên sẽ thấy là hàm râu Tôn Trung Sơn, đầu trọc của Tưởng Giới Thạch, nét mặt trên mặt tiêu chuẩn của Mao Trạch Đông. Đó là bức chân dung khái quát cả một trăm năm lịch sử của Trung Quốc, hoặc có thể coi đó là toàn bộ chân dung của chủ nghĩa Dân chủ cũ và chủ nghĩa Dân chủ mới của Trung Quốc.
Phong cảnh sau cửa sổ: ngoài trời đen đặc mây vần vũ, mờ mịt như cục diện trên eo biển Đà i Loan. Trung tâm của bức tranh là bốn cô gái đang đánh Mạt chược, một cô đứng ngoài biển Thái Bình Dương ngóng vào cuộc chơi của những “ông lớn”, trên thực tế, trong cuộc chơi bốn người ấy, Đài Loan không có phần tham dự.



Thế cục ván Mạt chược của hai cô gái tóc vàng và hai cô gái tóc đen, Trung Quốc và Mỹ là hai tay chơi chính đối diện nhau, Nga và Nhật chỉ là vai phụ, vai trò của từng người chơi rất rõ ràng. Phục sức của bốn mỹ nữ đại diện cho thực lực của họ, nước Mỹ phía trên áo quần long trọng nhất, nhưng nửa dưới mát mẻ, chứng tỏ trên võ đài Mỹ là thế lực mạnh mẽ nhất, nhưng dưới võ đài thì trần trụi. Trung Quốc trên cuộc chơi có vẻ tay không, chẳng áo mão gì, nhưng thực tế thì là tay chơi lắm đòn nhiều công lực nhất. Nhật Bản không một mảnh vải che thân, không thế lực, và Nga chỉ có một miếng vải che.



Trên bức hoạ này, Trung Quốc quay lưng, không lộ sắc mặt, nhưng chính là người quan tâm nhất đến ván Mạt chược, sau lưng Trung Quốc giấu hai quân, và đang lén lút trao đổi quân với Nga. Nhật đang mê mẩn với chính mình, Nhật là người chơi ngốc nhất trong cuộc, vừa nhìn thế cuộc vừa cảm thấy tự mãn. Nga đang nằm ngửa, gác chân lên Mỹ, bài của Nga là con Tướng Công, nói lên rằng Nga chẳng quan tâm chuyện thắng thua nà y, cũng không muốn chơi tiếp, nhưng Nga trên bề mặt thì dây mơ rễ má cùng Mỹ, dưới hậu đài thì bí mật đi đêm cùng Trung Quốc, hẩy cho Trung Quốc những con bà i riêng. Còn Mỹ thì lại đang nhìn đến Đà i Loan, tay đặt sau gáy vặn eo, như thể Mỹ đã mệt và mỏi, Mỹ đang cân nhắc xem có đáng để chơi tiếp hay không, chứ không phải là suy nghĩ xem làm thế nào cho thắng.



Đài Loan vô cùng chăm chú tới cuộc chơi, bê trên tay đĩa trái cây như những lợi ích thực tế, nắm dao lộ liễu. Quần áo của Đà i Loan là kiểu y phục Trung Quốc, ngầm ý rằng Đài Loan mới đích thực là những giá trị Trung Hoa chính thống. Còn Trung Quốc chỉ xăm phượng rồng trên da, chứ trang phục đã thành đồ Tây cả rồi, nói lên xu hướng phương Tây hoá của Trung Quốc.


Trong tranh, Mỹ dường như không nhìn vào bài của mình, nhưng thực tế đang nhìn một lá bài khác, đó là Đài Loan.



Một nguồn tin từ tạp chí khác của TQ thì nhận xét: Người con gái Trung Quốc đang chạm quân Đông Phong, chỉ có ý rằng ta đang là “Đông” (tức là chủ nhân của tình thế). Nga đang lợi dụng lúc Mỹ Nhật lơ đễnh, lén lút trao quân bài cho Trung Quốc, thời khắc nà y là lúc họ đang “đi đêm”, và trên ván mạt chược của Nga rõ ràng thiếu đi một quân.



Đài Loan ở bên rõ ràng phát hiện thấy màn kịch hậu trường, Nga hậu thuẫn cho Trung Quốc trong thế cuộc này, và Mỹ, thông qua việc quan sát gương mặt Đài Loan để phát hiện được phần nà o động tĩnh. Trên thực tế, cả Mỹ lẫn Nga đều đang “đi đêm” với thủ đoạn riêng và mục đích riêng.



Trong khi Mỹ còn nhìn Đài Loan với gương mặt vừa quan tâm vừa suy nghĩ xem không biết nên làm gì với “nhỏ” này thì Đài Loan chỉ muốn nói rằng, con dao nhỏ là năng lực phòng vệ của tôi, đừng ai động đến quyền lợi của Đài Loan.



Một giải thích khác từ báo chi Phương Tây: người xăm phượng hoàng trên lưng là Trung Quốc, nhưng lại mặc đồ phương Tây. Phải đây là ám chỉ Trung Quốc giờ đây “Học chữ Hán để lấy lễ còn học Tây học để hữu dụng”?



Mây mù vần vũ ngoài cửa sổ như tình thế u ám giữa hai bờ biển Đài Loan, Trung Quốc, nơi thế cờ này được bà y ra giữa bốn bên rình nhau. Quyền lợi đan xen giữa Trung Mỹ Nhật Nga quá phức tạp, và Nhật chỉ nhăm nhăm lợi ích cho bản thân mình.



Phương Tây thường nhìn nhận chính phủ Dân quốc của Quốc dân đảng Đài Loan như một chính phủ Dân tộc chủ nghĩa, bởi thế tấm áo khoác lên Đài Loan là áo yếm truyền thống. Và năm 2008, lập trường của Đài Loan vẫn là Dân-Quốc chứ không phải đòi độc lập thà nh Đài – Loan - Quốc. (Điều nà y tôi cho là phù hợp bởi trong cuộc tổng tuyển cử bầu tổng thống Đài Loan năm 2008, ứng cử viên nhiều cơ hội nhất là Mã Anh Cửu của Quốc Dân Đảng với chủ trương ôn hoà , dân tộc và phát triển).



Nhìn tình huống trên bức tranh “Bắc Kinh 2008”, thấy Nga đã ngả về Trung Quốc, và Mỹ càng chơi giằng co càng nhiều rủi ro.



Riêng Trung Quốc, đang hy vọng cố già nh phần thắng bằng mọi cách, bằng cạnh tranh, bằng đi đêm, bằng thủ đoạn. Nhưng tôi tin Mỹ thắng ván cờ châu Á, bởi ai thua người đó đã… cởi dần từng cái áo rồi.



Và ván Mạt chược phương Đông vần quanh Trung Quốc Đà i Loan nà y, có thể là ván cuối, lại có thể là khúc dạo đầu của một cục diện mới.(Onevn.net)

5 tháng 10, 2008

TIN VUI CHO CÁC BLOGGER VN !!!

CÓ CẦN PHẢI NHƯ THẾ KHÔNG???

NGAY TỪ BÉ ĐÃ ĐƯỢC DẠY CHO BIẾT GIẢ DỐI

Mời các bạn xem "Thiếu niên tiền phong" số 79(9-2008} trang 3, mục "câu chuyện thứ tư", tựa đề " Ông ấy có còn xứng đáng". Bài viết đầu độc ngay cả đầu óc tuổi thiếu nhi.

Như thế này thì ai là kẻ chủ mưu gây chia rẽ trong dân Việt, vì một thiếu nhi Công giáo hẳn sẽ không tin những gì viết trong bài báo, nhưng một thiếu nhi không Công giáo thì không biết được.

"Lạy Chúa! Xin tha cho chúng chúng không biết việc chúng làm!" Mình đã khá bất bình vì những thông tin đã kích Đức Tổng giám mục Ngô Quang Kiệt vừa qua, nhưng cứ nghĩ rồi họ cũng nhận ra lổi của mình và im miệng đi. Báo chí VN thì cũng chỉ làm theo chỉ thị ở trên thôi. Rồi thì hi vọng mọi người sẽ có thể đọc được những thông tin khác trên Internet về nguyên văn lời phát biểu của ĐGM và sẽ có nhận xét cho mình.(Dù mình rất tức giận khi đọc được trên Báo Hà Nội Mới Online khi báo này đưa những ý kiến của đọc giả (mà cũng ko biết có phải là của đọc giả không? khi họ chưởi bới Đức Tổng giám mục là "cầm thú", là "hãy cút ra khỏi nước Việt nam..." Một tờ báo mà cho đăng những từ ngữ thiếu văn hóa như thế để nhục mạ người khác, để gây chia rẽ đoàn kết dân tộc, kì thị tôn giáo thì không đáng gọi là báo nữa và quyết dịnh kêu gọi mọi người tẩy chay nó)Và mình cũng đã có hỏi ý kiến vài người bạn không theo Đạo Thiên Chúa, thấy họ nhận xét cũng khách quan "tớ thấy Đức Tổng Giám Mục phát biểu như vậy cũng không có gì sai, tuy nhiên không thích hợp trong hoàn cảnh đang tranh chấp với chính quyền, vì vậy đã làm cho họ có cớ để tấn công ông ấy"), thôi thì cũng cho qua và Xin Chúa tha cho họ vì họ ko biết việc họ làm tai hại thế nào.

Nhưng khi mình đọc được bài viết " Ông ấy có còn xứng đáng" trên báo "Thiếu niên tiền phong" số 79(9-2008} trang 3, mục "câu chuyện thứ tư", thì mình không thể không tức giận và gọi người viết bài này là một kẻ đầu đọc con nít, một tên Việt gian gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, kì thị tôn giáo, họ thật độc ác, khi mà ngay cả những em thiếu niên chưa hiểu biết nhiều, còn ngây thơ mà họ cũng không tha. Một sự gỉa dối trắng trợn. Theo mình, không nên đưa vấn đề chính trị tôn giáo này lên báo Thiếu niên một tí nào, các em còn nhỏ, chưa thể hiểu biết hết được, và rồi hậu quả của nó sẽ rất nghiêm trọng, đôi gạt người lớn là đã quá đủ rồi!!! Tại sao lại đi dối gạt cả những em nhỏ???Họ còn có lương tâm nữa không???

Và đây là nguyên văn bài phát biểu của TGM Ngô Quang Kiệt trong buổi làm việc với UBND TP. Hà Nội

"Tôi hết sức cám ơn ông Chủ tịch uỷ ban nhân dân thành phố Hà nội cũng như là tất cả các ban ngành trong Thành Phố Hà nội đã dành cho chung tôi một buổi tiếp xúc vừa trân trọng vừa cởi mở và chân tình. Những lời ông Chủ tịch nói kết thúc thật là đẹp và tất cả chúng ta ai cũng mong muốn, thật ra có một sự hài hoà trong cái khối đoàn kết thống nhất. Tuy nhiên muốn có cái hài hoà trong cái mối thống nhất thì đâu chỉ có cái tình mà phải có lý nữa, tục ngữ pháp có nói rằng: những cái tính toán nó đúng mực nó mói là những người bạn tốt được. Muốn bạn tốt với nhau cũng phải tình lý phân minh chứ không phải chỉ có tình mà thôi. Chính vì thế tôi cung xin có một vài lời cuối cùng trước những lời kết thúc của ông Chủ tịch.

Trước hết ông chủ tịch có nói rằng: Uỷ ban nhân dân TP đã tạo rất là nhiều điều kiện cho Giáo Hội Công Giáo trong những năm qua nhất là dịp Lễ Noel… chúng ta phải công nhân trong những năm gần đây có nhiều điều kiện, thế tuy nhiên khi như thế, khi nói tạo điều kiện vẫn còn mang cái tâm lý xin cho: tức là cái này là ân huệ tôi ban cho anh đó. Nhưng mà cái tôn giáo là cái quyền tự nhiên con người được hưởng. Và nhà nước vì dân cho dân phải có trách nhiệm tạo cái điều đó cho người dân chứ không phải cái ân huệ chúng tôi xin. Không có. Tự do tôn giáo là quyền chứ không phải là cái ân huệ “xin cho”.

Cái thứ hai, ông chủ tịch có nói mọi cư xử phải vừa dựa trên pháp luật và cũng phải trên tình người, và công dân. Cái điều đó tôi rất đồng ý, rất là tâm đắc. Tuy nhiên trong cái thực chúng ta phải làm như thế. Đó về phương diện pháp luật chúng ta phải làm theo pháp luật, thì cái gì cũng phải có cơ sở pháp lý. Ông chủ tịch có nói rằng: đất đai thì nó từ ngàn xưa không biết nguồn gốc từ đâu mà đến thời Giáo Hội Công Giáo thì lại được trao cấp cái đó thì chúng tôi công nhận cái đó. Thế nhưng ít ra khi cấp như thế người ta có một mảnh giấy công nhận là đây được cấp. Và đến thời chính quyền sau có thể thay đổi, nhưng phải có giấy tờ để chứng minh cái sự thay đổi (và không ai có thể thay đổi được là làm sao?). Thế thì trên mảnh đất 42 chúng tôi chưa được cái văn bản nào của nhà nước nói về cái sự thay đổi đó. Không có đi vào cái diện cải tạo tư sản, không có đi vào cái diện cải tạo nông nghiệp, cũng không có cái văn bản nói lên sự tịch thu hay là trưng thut trao cho cơ quan nào… hoàn toàn không có. Thực ra có thể nói việc quản lý của cơ quan nào đó là chưa có hợp pháp, trên cái căn bản là chúng ta phải có giấy tờ, chứ bây giờ kẻ cướp vào nhà chúng tôi rồi ngang nhiên ở đó rồi không có giấy tờ gì hết và họ mạnh chúng tôi không đuổi ra được thì đương nhiên họ chiếm hay sao?! phải có giấy tờ, cần có văn bản pháp lý. Thế thì về vấn đề pháp luật thì vấn đề đất 42 chúng tôi chưa hai lòng với câu trả lời của ông. Chúng ta phải sống theo pháp luật, thì phải có văn bản giấy tờ của chính quyền. Thời chính quyền này có thể thay đổi, chính quyền sau có thể thay đổi nhưng phải có giấy tờ văn bản rõ ràng. Chúng tôi thấy đất 42 chưa có cái văn bản đó.

Cái vấn đề thứ hai, ông chủ tịch có nói rai ngoài vấn đề pháp lý, chúng ta phải cư sử theo tình người, nguyện vọng của người dân thì chúng tôi thấy vẫn chưa được: biết bao nguyện vọng chúng tôi nêu lên, ít nhất là qua 15 lá đơn của Toà Tổng Giám mục Hà nội và hội đồng Giám Mục bao nhiêu lần nữa, nguyện vọng chúng tôi về cái đất đó gắn bó với chúng tôi nó gần gũi với chúng tôi. Nguyện vọng thật là chính đáng nhưng không bao giờ được giải quyết cả. Cho nên có thể nói đó cho chúng tôi thấy cái lý thuyết, nguyên tắc ông chủ tịch đưa ra rất hay nhưng chưa thực hiện được, nguyện vọng cũng như pháp lý.

Chúng tôi không tranh chấp với nhà nước. Bằng chứng đó là, như ông chủ tịch có nói đó, trong tờ kê khai của linh mục Nguyên Tùng Cương, lúc đó là quản lý tòa Tổng Giám Mục, có 95 cơ sở. Chúng tôi có đòi cơ sở nào đâu, vì những cơ sở đó thực sự dùng vào những lợi ích chung. Chẳng hạn như cái trường Hoàn Kiếm, chúng tôi không bao giờ nói tới. Bệnh viện Xanh Pôn chúng tôi không bao giờ dám nói tới. Bệnh viện Bài Lao không bao giờ chúng tôi dám nói tới, vì sử dụng vào lợi ích chung. Nhưng khách san Láng Hạ chúng tôi sẽ nói tới, bởi vì sử dụng vào mục đích kinh doanh. Và cái Tòa Khâm Sứ đã thành cái nơi sàn nhảy, đã thành cái nơi kinh doanh buôn bán, đã có cái dấu hiệu buôn bán chia chác để làm cái trung tâm thương mại. Chúng tôi nói tới bởi vì nó rơi vào tay tư nhân thế nên chúng tôi nói, thế nên chúng tôi không tranh chấp với nhà nước. Nhưng chúng tôi nói lên cái tiếng nói của công lý. Bằng chứng cái trường Hoàn Kiếm bên cạnh, chúng tôi có bao giờ dám đòi đâu. Bởi vì nó phục vụ lợi ích chung, các bệnh viện nó phục vụ lợi ích chung. Do đó, chúng tôi xin nhắc lại, chúng tôi rất mong muốn xây dựng một khối đại đoàn kết dân tộc.

Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam, (đây là đoạn được báo chí trích ra, nhìu báo còn ko thèm có một dấu (...), đúng là tiểu xảo mà!!!)đi đâu cũng bị soi xét, chúng tôi buồn lắm chứ, chúng tôi mong muốn đất nước mình mạnh lên. Làm sao như một anh Nhật nó cầm cái hộ chiếu là đi qua tất cả mọi nơi, không ai xem xét gì cả. Anh Hàn Quốc bây giờ cũng thế. Còn người Việt Nam chúng ta thì tôi cũng mong đất nước lớn mạnh lắm và làm sao thật sự đoàn kết, thật sự tốt đẹp, để cho đất nước chúng ta mạnh, đi đâu chúng ta cũng được kính trọng. Thế nhưng chúng ta không phải chỉ có tình cảm mong muốn là được mà phải có lý luận xây dựng thật là vững chắc trền nền tảng pháp lý. Một lần nữa chúng tôi xin hết sức cám ơn ông chủ tịch và Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hà Nội dã dành cho chúng tôi một buổi tiếp đón thật là trân trọng và thân tình và hứa hẹn những trao đổi khác thì chúng tôi thấy hy vọng như thế chúng ta hiểu nhau hơn và mới có thể làm cho Thành Phố Hà Nội chúng ta nói riêng, tiến đến kỷ niệm ngàn năm Thăng Long được vui vẻ, xứng đáng là một thành phố hòa bình và trong hòa bình thì có công lý và làm cho đất nước chúng ta càng ngày càng phát triển.

Tôi xin cám ơn."

3 tháng 10, 2008

VỊ ĐĂNG NHỮNG CHUYẾN ĐI XA


Đọc bài ký sự này để biết được Đất Nước VN đang ở đâu trong mắt người nước ngoài nhé mọi người. Để rồi mới thấy thấm thía lời của Giáo Sư Nguyễn Lân Dũng chia sẻ với các bạn trẻ VN "hãy biết tự xấu hổ, biết tự trọng để mà cố gắng xây dựng để làm cho VN phát triển". Đừng "tự ru ngủ mình" và cũng "đừng ngủ quên trên chiến thắng" vì đã đánh thắng hai Đại Đế quốc nữa, bây giờ đã là thế kỷ 21 rồi, là thời của tên lửa của vệ tinh rồi...Hãy biết xấu hổ và tự trọng....

Ký sự "quá giang"
VỊ ĐẮNG NHỮNG CHUYẾN ĐI XA

Những cảm nhận thức tế của một nhà báo Việt Nam về sự tụt hậu khi đất nước vừa mới mở cửa, hội nhập cùng thế giới.

Bài này đã đăng trên báo Xuân Tuổi Trẻ năm 1989- 17 năm rồi. Có lẽ đó là lần đầu tiên cụm thuật ngữ "ký sự quá giang" được sử dụng trên báo. Cũng chỉ là mượn chuyện người khác mà nói tâm sự của mình. Thật ra thời nào có khó khăn của thời đó, điều quan trọng là khó khăn có được thay đổi hay không. Rõ ràng, những khó khăn trong bài ký sự gần như không còn nữa, nhưng cũng không có nghĩa là tất cả mọi chuyện đều đã dễ dàng trôi qua. Đó là lý do để nó được đưa vào tập hợp những bài báo xuất bản lần này.

***

Một đồng chí giám đốc thuộc loại trẻ, có học thức, sau khi kể với tôi chuyện đi Tây, đã than : “Phải chi nhà báo các ông được đi nhiều để viết cho dân mình, cán bộ mình cùng đọc, cùng hiểu cái thân phận nghèo nhất thế giới của chúng ta mà đủ nhục như cái nhục mất nước, vậy mới quyết chí vươn lên nổi”.

Nhưng thưa bạn đọc, nếu chờ đến lượt mình đi nước ngoài thì “còn khuya”, nên tôi mạn phép mượn lời kể của những nhà quản lý mà tôi đã gặp sau những chuyến đi học tập xứ người, để viết bài ký sự dưới đây.

“Phải chi nhà báo các ông được đi nhiều để viết cho dân mình, cán bộ mình cùng đọc, cùng hiểu cái thân phận nghèo nhất thế giới của chúng ta mà đủ nhục như cái nhục mất nước, vậy mới quyết chí vươn lên nổi”. Lê Công Giàu(1989) : Nguyên giám đốc Trung tâm xúc tiến thương mại và đầu tư thành phố HCM.

Có một người ngoại quốc từng muốn “ngủ một giấc, sáng ra thấy mình là người Việt Nam”. Câu nói này hình như chỉ để mở đầu cho những chuyện cổ tích!

Lần đầu tiên đến Thái Lan, ngồi đợi ở sân bay Bangkok, tôi thấy một đoàn người xếp hàng dài dưới nắng mà không được vào ga. Hỏi ra mới biết đó là những thanh niên Việt Nam chờ máy bay chở đi lao động ở Trung Đông. Họ không được phép vào ngồi đợi máy bay ở nhà ga như nhũng hành khách khác. Tôi không hiểu tại sao, nhưng cảm thấy nhục vì người Việt Nam mình đi nước ngoài, đặc biệt các nước tư bản, là phải đi qua cửa ngõ sân bay Bangkok - thay vì chỉ cần qua cửa ngõ Tân Sơn Nhứt của ta - rồi từ đó mới đáp máy bay đi tiếp. Cho nên phải chịu bao cảnh ngang trái đau lòng. Trở lại chuyến đi lao động ở Trung Đông. Một người bạn ngồi ở phi trường với tôi hôm đó đã kể rằng : Người Việt Nam đi Trung Đông để đào kênh qua sa mạc, lao động cực nhọc, thỉnh thoảng còn bị đánh đập, vì nước người ta là tư bản. Có anh xa vợ lâu ngày mà bên Trung Đông cái khoản phụ nữ là đặc biệt cấm kỵ nên khi về đến Thái Lan, bao nhiêu tiền dành dụm, đem ra ăn chơi xả láng, và mắc bệnh, không dám về Tổ quốc nữa. Nhân chuyện này, tôi nhớ có lần tôi đi dự một hội nghị du lịch tại Tiệp Khắc, ở đó, tôi đã xem trên truyền hình một bộ phim tài liệu hình sự, diễn ra cảnh các thanh niên Việt Nam lao động hợp tác tại Tiệp Khắc thanh toán nhau bằng búa. Tôi chợt hiểu tại sao tôi đón mãi mà xe buýt không dừng, đến khi mang huy hiệu phái đoàn Nhật thì mới đón được xe. Cũng không lạ gì cảnh người Việt mình ở Matxcơva không dám chào nhau bằng tiếng Việt vào thời điểm có một thanh niên Việt Nam giết một cảnh sát vì bị bắt quả tang nấu rượu lậu.

Còn đâu những huyền thoại về người Việt Nam anh hùng? Khi tôi đến nước Pháp hào hoa, đi ăn ở restaurant với mấy anh bạn Việt kiều, những ông khách bàn bên cạnh thấy chúng tôi là người châu Á, hỏi : “Mày là người nước nào ?” Tôi chưa kịp trả lời, đã nghe người bạn Việt kiều : “Người Nhật ” - “A ! ông khách ngoại quốc kêu lên - nước Nhật của ông giỏi lắm. Xin cụng ly chúc mừng ông !”. Một lần khác tôi được giới thiệu là người Phi Luật Tân, thì người ta nói : “Nước ông còn đỡ hơn Việt Nam”. Ở Matxcơva tôi thử nói là người Trung Quốc xem sao, thì nhận được câu trả lời : “Ông nên gửi hàng thêm. Hàng của nước ông tốt lắm. Còn hàng Việt Nam ở Nga thì quá tệ”

Đó chỉ là những câu nói vô tình vì họ không biết tôi là người Việt và chính vì vậy, những câu nói đó chứa đầy vị đắng của sự thật. Lâu nay chúng ta cứ đóng cửa ca ngợi nhau mà không biết thế giới đang ngày càng vượt quá xa chúng ta. Có dịp đi bàn chuyện buôn bán , làm ăn ở một nước Tây Âu tôi mới thấy hết cái lạc hậu của mình. Ở một nước tư bản, cán bộ kinh doanh của ta khi ngồi vào bàn đàm phán còn hỏi : “Các ông huy động vốn, được cấp vốn bao nhiêu? Mà không biết rằng họ là tư bản, làm gì có khái niệm “cấp” hay “huy động” như chúng ta. Một điều đáng buồn nữa là trong khi thế giới người ta đã quan niệm quan hệ là : “hai bên cùng có lợi” thì cán bộ ta cứ nghĩ chuyện “đề nghị tài trợ, giúp đỡ”, nghĩa là cứ tính chuyện xin-cho.

Có lần tôi cũng tự sỉ vả mình, vì tỏ ra choáng ngợp trước không biết cơ man nào là hàng hóa trên những đường phố Bangkok. Tôi đã đi lại hàng giờ trước cửa hàng bán lốp ôtô xếp cao như núi, mà nhớ lại nỗi cay đắng của mình khi làm đơn xin duyệt một cái lốp ôtô, chờ cả tháng trời, lại xuống Vũng Tàu mới có. Khi đến Singapore tôi mới khám phá ra rằng nỗi vui của tôi khi đọc tin trên báo chí, mình ca ngợi một số nhà máy dệt “hiện đại hóa thiết bị” nhập máy mới rẻ, tiết kiệm cả triệu đôla là chuyện buồn cười.

Singapore, Nhật, CHLB Đức đâu còn muốn dệt vải nữa vì nhân công quá đắt. Ta cảm ơn họ rối rít trong khi lẽ ra họ phải cảm ơn chúng ta mới đúng, vì đã lãnh “của nợ” giùm họ (dù của nợ này cũng tốt chán với chúng ta). Chẳng qua chúng ta thiếu thông tin, như anh mù xem voi: đụng cái nào cũng là “voi cả”.

Ở Manila, tôi để ý thấy người ta quảng cáo rầm rộ trên tivi những sản phẩm mang nhãn hiệu nước ngoài được sản xuất, lắp ráp ở chính Phi Luật Tân, theo kiểu sous-licence, mà không mặc cảm tự ti dân tộc chút nào, vì hàng vừa tốt vừa rẻ. Tôi đến thăm hãng Samsung ở Seoul. Trước đây hãng này cũng làm theo công nghệ Nhật và sản phẩm của hãng cũng mang nhãn hiệu nước ngoài, nhưng sau khi cải tiến được trên 50% các chi tiết thì sản phẩm được mang nhãn hiệu Samsung, hiện nay không thua kém gì sản phẩm Nhật, giá cả lại rẻ hơn. Tôi được biết tiền lương tháng của một công nhân quét dọn ở đây là 500 đô còn tổng giám đốc thì phải 7.000 đô trở lên”. Lên án chế bóc lột công nhân tận xương tủy như thế nào đây ? Nói đến chuyện sản xuất sous-licence tôi nhớ hồi trước 1975 tại ngay Sài Gòn đã có nhiều hãng làm như vậy : National, Sanyo, Renault. Rất tiếc, chúng ta đã để lỡ mất cơ hội, nay thấy người tiến bộ mà thèm.

Giờ xin nói sang chuyện dịch vụ. Ở các thành phố mà tôi đã đi qua : Tokyo, Singapore, Manila, Bangkok, Seoul bất cứ đâu trong thành phố cũng có bàn “exchange” (đổi ngoại tệ), tạo mọi sự dễ dàng cho khách nước ngoài, chứ không khó khăn kỳ cục như bên ta. Đặc biệt ở Manila tôi thấy các quầy đổi tiền của ngân hàng Nhà nước đổi giá cao hơn của tư nhân. Tại một quầy tư nhân tôi đã đổi một đô lấy 20,4 pêsô còn sau đó tại một quầy của ngân hàng Nhà nước tôi đã đổi được 20,8 pêsô. Cho nên phần lớn ngoại tệ đều vào tay nhà nước. Cách làm này hoàn toàn ngược với nước ta. Ở Thái Lan mạng lưới dịch vụ cũng như thái độ phục vụ so với ta, có thể nói là “cực kỳ”. Ấn tượng đầu tiên là thủ tục Hải quan sân bay quá nhẹ nhàng. Hàng hóa ngoại quốc mang vô nước họ không thành vấn đề. Riêng hàng tiêu dùng mà Thái Lan không sản xuất,được mang vào tự do, không phải chịu thuế má gì cả. Tôi đã đến bãi biển du lịch Pattaya. Cảnh quan ở đây đâu sánh nổi với Vũng Tàu, Nha Trang chứ đừng nói chi Hạ Long, Đà Nẵng, thế mà du khách nườm nượp, phải kể con số triệu mỗi năm. Bởi họ biết tổ chức phục vụ tối đa mọi nhu cầu của con người, từ phòng tập thể dục đến bể bơi.

Lúc đến Singapore, tôi để ý thấy trong các danh bạ điện thoại ở khách sạn, nhà hàng đều có câu “Every country in the world but Vietnam”, nghĩa là : có thể gọi điện thoại khắp nơi trên thế giới, ngoại trừ Việt Nam. Tôi bàng hoàng vì không thể ngờ trong thời đại bùng nổ thông tin này vì kém cỏi mình lại bị loại ra khỏi hệ thống. Họ hận thù vì ta là xã hội chủ nghĩa ? Nhưng Tiệp Khắc, Liên Xô, Trung Quốc thì sao? Tôi không lý giải được, chỉ thấy một nỗi nhục canh cánh bên lòng. Ở Seoul tôi lại bị một nỗi đau khác gậm nhấm, khi thấy trên đường phố chỉ toàn xe hơi nhưng không tìm đâu được một xe nhãn hiệu Nhật, Mỹ, hoặc Ý. Người Nam Triều Tiên chỉ đi xe hơi do chính họ sản xuất. Cũng không nên vội vàng so sánh với nước mình vì mình chưa làm được xe hơi. Có điều tôi đau khi biết rằng chủ hãng xe hơi lớn nhất Nam Triều Tiên hiện nay, hãng Hyundai, là con trai của một nông dân mà lúc cha của ông ta còn cày ruộng , thì ở Sài Gòn người ta đã lắp xe La Dalat rồi. Trước đây, nhiều người sợ rằng nếu mở cửa du lịch thì văn hóa tư sản sẽ ùa vào, đầu độc thanh niên nước ta, nhưng đi một số nước, tôi thấy không hẳn tuổi trẻ ở đó chỉ biết ăn chơi, sống vội. Như ở Seoul chẳng hạn, thanh niên ăn mặc lịch sự, gọn gàng, lúc nào cũng thắt cà vạt rất chững chạc, văn minh. Tôi để ý thấy họ ít nhậu nhẹt và hút thuốc ngoài đường phố. Ở Seoul mười ngày, tôi chỉ mời được một người hút thuốc. Có lẽ rượu, thuốc đều rất đắt mà họ lại tiết kiệm tiêu xài, chứ không” xả láng sáng nghỉ sớm” như quan niệm của một số bạn trẻ chúng ta.

Ai đi xa về lại không sung sướng khi máy bay đến gần Tổ quốc. Tôi không có niềm sung sướng đó mà chỉ hồi hộp, lo âu vì biết bao thủ tục phiền hà đang chờ đợi. Rời sân bay Bangkok chưa đầy mười lăm phút đã thấy nhân viên hàng không phát cho hành khách mỗi người bốn tờ giấy dài đầy chữ. Hầu như mọi thứ lỉnh kỉnh đều phải khai ra hết, bao nhiêu áo pull, áo gió, quần bò cho đến một đồng đô còn sót. Chưa khai hết một tờ đã dọn ăn. Có hành khách không kịp ăn vì phải vật lộn với những khoản mục trong các tờ khai.

Tôi chợt nghe hai ông khách nói tiếng Anh ở hàng ghế trước : “Ông đi Việt Nam du lịch?”. “Không, tôi có việc mới đến, chứ xứ sở quá phiền hà thế này đi du lịch cái gì”. Tôi như bị cái tát tai hay một gáo nước lạnh vào mặt.

Chưa hết, xuống đến nhà ga phi cảng lại phải chờ thêm cả tiếng đồng hồ, mồ hôi ra đẫm áo mà thủ tục dường như cứ đứng ì một chỗ. Một ông khách tưởng tôi là người ngoại quốc, lắc đầu nói : “Mất cả giờ rồi mà chúng ta chưa ra khỏi phi trường, không có đâu như ở đây”. Tôi đỏ mặt xấu hổ, nhưng không biết nói thế nào. Các bàn để làm thủ tục hải quan xếp theo hình chữ U quanh hành khách cũng gây một cảm giác sợ hãi như trước vành móng ngựa. Tôi đã đi qua Nhật, Ý, Pháp, Phi Luật Tân, Singapore, Nam Triều Tiên, Tiệp, Liên Xô rồi về Thái Lan, tôi có ý so sánh bên mình qua các cửa sân bay nên bấm giờ để coi thủ tục họ nhanh - chậm thế nào. Phải nói ở các nước XHCN[1] còn chậm, nhưng ở các nước tư bản thì không quá vài phút. Ở phi trường Nhật chỉ năm phút. Ở Bangkok, mình đi chậm nhân viên hải quan còn hối thúc đi nhanh. Có thể có trường hợp lâu nhưng chỉ là cá biệt vì nghi ngờ mang vũ khí hay ma túy. Lúc tôi đến phi trường Seoul thủ tục chậm hơn đôi chút vì đang có Olympic. Ở các nước, tờ khai của họ chỉ bằng bàn tay với bốn năm câu hỏi, chủ yếu để thông báo khi có tai nạn, Ở Bangkok, mang vào trên 10.000 đô mới khai, nhưng không khai cũng không sao. Họ sợ mất khách du lịch vì một thái độ bất nhã nào đó, nên rất tránh khám xét. Họ dám bỏ con tép để câu con tôm, chứ không “cò con” như chúng ta. Cái cảm giác dễ chịu không thể nào có được khi đứng trước những khuôn mặt lạnh lùng, nghi kỵ ở căn phòng làm thủ tục tại sân bay. Đối với người đi du lịch, cái thích nhất chưa hẳn là cảnh đẹp, gái đẹp mà là lòng hiếu khách.

Kết thúc bài ký sự “quá giang” này, tôi không biết gì hơn là cảm ơn (và cả xin lỗi) những đồng chí xưng “tôi” trong bài : Nguyễn Bá, Lê Công Giàu, Đặng Trung Tín, Lê Hùng Dũng, Khiều Thiện Thuật, Phan Phùng Sanh và Nguyễn Đăng Liêm, (*)những người đã mất thì giờ cho nhà báo sau những chuyến đi xa. Cái cảnh “quá giang” cũng là đặc biệt, nhưng biết làm thế nào đối với một nhà báo quá đói thông tin. Lại nữa : mùa xuân “trông người mà ngẫm đến ta”, chẳng khác nào uống thuốc đắng, không có gì thú vị; nhưng tổ tiên ta vẫn dạy : thuốc đắng dã tật. Nghìn chén đắng thế này cũng chưa dã tật đâu, tôi chỉ mong nỗi nhục này góp phần thức tỉnh chúng ta, vươn lên làm giàu và sống có văn hóa, văn minh thật sự, chứ không mãi tự ru mình trong những ánh hào quang./.

Trần Ngọc Châu

Search Box

Loading