Tìm kiếm trong Blog này

25 tháng 4, 2012

Bí ẩn những ngôi mộ cổ - Kỳ 4:
Ngôi mộ cổ vị danh tướng
TT - Ngôi mộ cổ ấy là nơi máu xương, khí phách anh hùng Nguyễn Tri Phương đã hòa cùng lòng đất Việt.
Một vị tướng đến tuổi 73 vẫn can trường chiến đấu và hi sinh, không chịu hòa nhục với quân thù, để người đời cảm khái đề thơ tiếc thương: “Thác về hùng khí rạng sơn hà/Nếp nhà vẫn giữ màu thanh đạm/Lo nước nào hay tóc bạc pha...”.
Đặc biệt, ngay quân Pháp bao phen giáp trận với Nguyễn Tri Phương cũng rất trân trọng ông.
>> Kỳ 2: Sự thật trong quan tài cổ>> Kỳ 3: Những nấm mộ cát linh thiêng
Gò mộ của cha con danh tướng Nguyễn Tri Phương ở Phong Điền - Ảnh: Quốc Việt
Chân dung danh tướng Nguyễn Tri Phương do người Pháp vẽ lại - Ảnh tư liệu


Gò mộ cổ ở Chí Long
Về làng Chí Long, xã Phong Chương, huyện Phong Điền, Thừa Thiên - Huế, hỏi thăm khu mộ phần danh tướng Nguyễn Tri Phương ai cũng biết. 138 năm đã trôi qua cùng bao biến động thời cuộc xảy ra trên quê hương kể từ khi ông tuẫn tiết cùng thành Hà Nội, nhưng người đời sau vẫn chưa phai nhòa công đức ông. Từ đường cái rẽ vào một đường làng nhỏ đã được xây gạch tinh tươm, thấy lăng mộ nổi bật lên giữa cánh đồng lúa bao la. Đó là một gò đất rộng vài trăm mét vuông, nhô cao khoảng hơn 2m so với mặt đồng.
Đây chính là nơi an nghỉ cuối cùng của hai cha con danh tướng tử trận Nguyễn Tri Phương và Nguyễn Lâm. Chính sử kể rằng ngày 20-11-1873, phò mã Nguyễn Lâm tử trận và Nguyễn Tri Phương cũng bị trọng thương khi bảo vệ thành Hà Nội rồi oanh liệt giữ khí tiết đến chết sau đó đúng một tháng. Cảm khái trước sự hi sinh anh hùng của hai cha con, vua Tự Đức đã lệnh đưa thi hài về an táng tại cánh đồng tổ tiên này và thờ tự tại gò Đống Đa lẫn quê hương. Đến giờ sau nhiều năm, bia đá cùng những câu đối trên trụ cổng và tường lăng đã chữ còn chữ phai theo thời gian.
Tường lăng xây không cao, tôi đứng ngoài đã nhìn thấy rõ hai nấm mộ Nguyễn Lâm và Nguyễn Tri Phương bên trong. Mộ đầu tiên từ cổng vào được xây vuông vức nhưng vẫn để lớp đất lơ thơ cỏ xanh trên mộ. Chếch phía sau là nấm mộ kiên cố, nhiều đường nét hơn với hai khối chồng lên nhau. Theo các cụ cao niên địa phương, người xưa đã xây dựng lăng mộ rất chắc chắn bằng hợp chất ô dước vôi, cát, mật. Nó bền bỉ trải qua hơn một thế kỷ với bao mùa nắng hạn, lũ lụt lẫn bom đạn chiến tranh nhưng chưa bị hư hại nặng nào.
Tuy nhiên cách đây vài năm, nấm mộ bên trong đã bị kẻ gian đục trộm hai lỗ xuyên qua lớp quách ngoài để tìm kiếm cổ vật, châu báu chôn theo cha con vị đại tướng của triều đình. Một lỗ đục ngang hông mộ, một lỗ ở ngay phía đầu. Dân địa phương phát hiện sự việc trong đêm. Người ta chỉ dám tìm hiểu sự tàn phá của kẻ gian bằng cách thọc cây vào lòng mộ xem bị đào sâu bao nhiêu. Kẻ trộm mồ đã kịp trốn mất. Nhưng người làng Chí Long tin rằng chúng không lấy được gì vì sinh thời Nguyễn Tri Phương vốn nổi tiếng thanh bạch.
Quê hương Nguyễn Tri Phương ở chính mảnh đất Phong Điền địa linh nhân kiệt. Đặc biệt, ngay trong gia đình Nguyễn Tri Phương thì ngoài ông còn thêm người em trai Nguyễn Duy, con trai Nguyễn Lâm cũng là danh tướng trực tiếp ra trận. Từng nhiều phen sát cánh trong thời kỳ đầu chống quân Pháp, cả ba ông cùng chấp nhận kết cục bi tráng cho Tổ quốc là đều tuẫn tiết tại sa trường.
Từng đánh bại quân Pháp
Ngược thời gian trở lại cách đây hơn 200 năm, làng cổ Chí Long này chính là nơi Nguyễn Tri Phương ra đời vào ngày 21-7-1800 với tên đầu là Nguyễn Văn Chương, tự Hàm Trinh, hiệu Đường Xuyên. Gia đình ông thanh đạm, sống bằng nghề nông và thợ mộc. Lòng trung nghĩa với nước của ông cũng khác người khi tiến thân bằng chính năng lực thực tế của mình chứ không nặng khoa cử như kẻ cùng thời.
Theo một công trình nghiên cứu Nguyễn Tri Phương của tác giả Đào Đăng Vỹ, khởi đầu ông chỉ là nha lại phụ việc ở huyện đường Phong Điền nhưng có tư chất cứng cỏi, thông minh khác người. Từ việc tra xét nghiêm minh một vụ án bí ẩn, ông được mời lên làm ở Bộ Hộ, rồi giữ trọng trách suốt ba triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức.
Tuy nhiên, điều đặc biệt nhất ở Nguyễn Tri Phương là từ quan văn, ông đã trở thành một quan võ hữu dụng trong thời cuộc Tổ quốc loạn lạc. Và triều Nguyễn cũng chưa từng có vị quan nào xông pha sa trường nhiều như ông khi đã chỉ huy trăm trận suốt Nam, Trung, Bắc, đối đầu từ giặc loạn trong nước đến quân xâm lược biên thùy. Đến tuổi 73, Nguyễn Tri Phương râu tóc bạc phơ vẫn đi đầu binh lính tử chiến đến cùng với quân Pháp.
Lâu nay hậu thế ngậm ngùi biết nhiều về cuộc chiến bại đại đồn Kỳ Hòa như mở đầu chuỗi thất bại của tướng Nguyễn Tri Phương trước hải quân viễn chinh Pháp. Nhưng ít ai biết ông từng gặt hái chiến thắng hiển hách trước đội quân này. Năm 1858, hạm đội 14 chiến thuyền của Pháp và Tây Ban Nha lại tái nổ súng vào Đà Nẵng. Vụ tập kích pháo hạm này được chỉ huy do chính viên trung tướng dày dạn chiến trường Rigault de Genouilly từng ám khói súng ở Nga và đánh phá tơi bời Trung Quốc. Hai đồn An Hải và Tôn Hải, Đà Nẵng do Đào Trí và Lê Đình Lý trấn giữ không chịu nổi hỏa lực nên bị quân Pháp đánh hạ. Triều đình phải điều Nguyễn Tri Phương làm tổng thống đại thần cùng người em Nguyễn Duy khẩn cấp vào Đà Nẵng chống Pháp.
Trước đà thắng trận, liên quân Pháp - Tây Ban Nha ồ ạt tiến vào sông Nại Hiên. Trong đó có những chiến hạm hạng nặng như Némésis với 50 đại bác, Phlégéton 12 đại bác ... Nguyễn Tri Phương lợi dụng hiểm địa hai bờ sông, bố trí nhiều súng đạn đã quyết liệt bắn trả. Một trong các chiến hạm của Pháp trúng đạn bốc cháy dữ dội và bị chìm. Các tàu còn lại phải rút lui. Chính Rinault de Genouilly đã phải tường trình trận chiến này: “Những đồn lũy này tốt hơn tất cả đồn lũy ta đã thấy ở Trung Quốc rất nhiều”. Trong thư gửi bộ trưởng hải quân Pháp lưu tại tàng thư Bộ Thuộc địa, viên trung tướng này còn thừa nhận: “... Chính phủ đã bị lừa dối về “công cuộc Cochinchine” ... Người ta nói đến sự thiếu vắng một đội quân vũ trang. Thật ra đạo quân chính quy rất đông đảo, và đạo quân dân gồm những người tráng kiện trong nhân dân ...”.
Từ chiến thắng này, Nguyễn Tri Phương đã xây dựng học thuyết quân sự ngăn ngừa, chống giữ trước đội quân hỏa lực mạnh và được huấn luyện tốt. Ông cho xây dựng đồn Liên Trì, đắp trường lũy Hải Châu, đào hầm chông để chặn đứng các toán lính thủy đánh bộ Pháp. Đến giờ nghĩa trang liên quân Pháp, Tây Ban Nha vẫn chưa nhòa dấu vết trên chiến trường xưa ở Đà Nẵng.
Nhưng sự nghiệp vệ quốc của vị danh tướng vẫn còn đẫm máu xương cho đến ngày ông phải tuẫn tiết ...
QUỐC VIỆT
__________
Nguyễn Tri Phương không chỉ được Tổ quốc vinh danh mà kẻ thù cũng kính nể. Sự thật hành động tuẫn tiết của ông đã được chính quân Pháp ghi nhận thế nào? Có hay không “ngôi mộ chiêu hồn” của ông để đánh lừa kẻ thù?
Kỳ tới: Sự thật cái chết anh hùng
Bí ẩn những ngôi mộ cổ – Kỳ 3: Những nấm mộ cát linh thiêng – TT
16THÁNG 4
Ông Phạm Quang Tĩnh thắp hương trên nấm mộ chiêu hồn tập thể cai đội Phạm Quang Ảnh và các hùng binh Hoàng Sa – Ảnh: Quốc Việt

Hậu duệ Phạm Thoại Tuyền luôn tự hào về tổ tiên Phạm Hữu Nhật dù chỉ còn nấm mộ cát chiêu hồn – Ảnh: Quốc Việt


TT – Dọc bờ biển miền Trung, mà đặc biệt ở đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi, có rất nhiều ngôi mộ cổ linh thiêng kỳ lạ. Hậu thế truyền đời kể rằng chúng chỉ là nấm mồ cát không có hài cốt bên dưới, nhưng được người sau đời đời kính thờ.
Đó chính là những nơi chiêu hồn các bậc anh hùng đã hiến dâng sinh mạng cho biển cả Tổ quốc. Thân xác họ nằm lại đại dương, người thân ở nhà phải đắp nấm cát làm lễ chiêu hồn để con cháu đời sau tưởng nhớ.

Những ngôi mộ không hài cốt
10 năm trước, một lần ra Lý Sơn trong mùa mưa bão, chúng tôi đã lặng người thắp hương viếng một ngôi mộ cổ rất kỳ lạ ở thôn Đông, xã An Vĩnh. Đó là nấm mộ cát có chiều dài hơn 2m như bao mộ phần khác, nhưng lại rộng đến cả 10m nằm ẩn khuất trong một khu vườn. Không có bia mộ ghi danh phận người nằm dưới nhưng lúc nào cũng nghi ngút hương khói của người kính viếng. Ông Phạm Quang Tĩnh, chủ nhân khu vườn này, ngậm ngùi kể đây là nấm mộ tập thể từ gần hai thế kỷ trước để chiêu hồn các hùng binh trong hải đội Hoàng Sa đã hi sinh cho chủ quyền biển đảo của Tổ quốc. Và hương hồn người nằm đầu tiên trong nấm mộ cát tập thể này chính là vị cai đội Phạm Quang Ảnh, tổ tiên trực hệ của ông Tĩnh. Sử Đại Nam thực lục chính biên đã chép rằng: “Tháng giêng, năm Ất Hợi (1815) sai bọn Phạm Quang Ảnh thuộc đội Hoàng Sa ra đảo Hoàng Sa xem xét đo đạc thủy trình…”.
Không chỉ sử sách ghi lại mà tổ tiên ông Tĩnh cũng để lại nhiều thư tịch cổ và truyền khẩu kể rằng hải đội Phạm Quang Ảnh đã thừa mệnh nước, giong buồm tiến ra Hoàng Sa nhiều lần. Họ đi thành từng đội 8-10 người trên những chiếc thuyền câu truyền thống của ngư dân Lý Sơn, khoảng ba ngày ba đêm thì tới. Nhiệm vụ chính của các hải đội Hoàng Sa này là đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ, dựng bia chủ quyền,thu lượm sản vật và xây dựng cả miếu thờ cho những nạn nhân đắm tàu trên quần đảo này cũng như đem lại may mắn cho người sau.
Đặc biệt, mỗi lần đến Lý Sơn, chúng tôi còn nhiều lần đến thắp hương trên một nấm mộ chiêu hồn đặc biệt khác của chánh suất đội trưởng thủy quân Phạm Hữu Nhật. Quê hương ở đảo Lý Sơn, ông đã bao lần dẫn hải đội tiến ra Hoàng Sa, và đến một chuyến ông đã ra đi không thể trở về. Người thân ở quê nhà làm lễ chiêu hồn, đắp nấm mộ cát cho ông trên núi Chóp Vung và gần đây đã được cải táng về nằm dưới bóng tượng đài các vị anh hùng Hoàng Sa ở đầu đảo Lý Sơn. Sử sách triều Nguyễn xưa cũng ghi chép rất chi tiết về công đức của người anh hùng đặc biệt này. Bộ Đại Nam thực lục chính biên kể rằng: “Vua Minh Mạng đã y lời tâu của Bộ công, sai suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật điều binh thuyền đi đem theo mười cái bài gỗ dựng mốc chủ quyền”.
Ở Lý Sơn còn rất nhiều nấm mộ chiêu hồn có danh phận rõ ràng hoặc đã khuyết danh theo thời gian liên quan đến các hùng binh Hoàng Sa. Và có một nấm mộ cát rõ ràng nhất, được con cháu đời sau thờ tự như Thành hoàng ở xã An Vĩnh là cai đội Võ Văn Khiết. Theo sử liệu cũng như lời truyền kể và thư tịch cổ của dòng họ Võ còn lưu giữ, cai đội Võ Văn Khiết chính là người Việt đã có mặt ở Hoàng Sa từ rất sớm. Bởi từ những năm 1802-1834, phú nhuận hầu Võ Văn Phú cùng các anh em Võ Văn Hùng, Võ Văn Công, Võ Văn Sanh… là con trai Võ Văn Khiết cũng đều thực hiện trọng trách đi Hoàng Sa. Hiện nấm mộ chiêu hồn cai đội Võ Văn Khiết đã được tôn tạo, dựng bia ghi công đức. Riêng mộ các con ông chưa được rõ ràng.
Theo anh Võ Văn Út, hậu duệ đời thứ 16 dòng họ này, hồi anh còn nhỏ đã được cha ông chỉ mộ chiêu hồn tập thể của gia tộc ở gần mộ cụ Khiết. Đó là nấm cát khá lớn, được đánh dấu bằng các viên đá núi lửa ở Lý Sơn, và tổ tiên truyền đời kể rằng nơi an nghỉ của hương hồn những người họ Võ đã tiến ra Hoàng Sa không về.

“Trang sử cát” linh thiêng
Có lần chúng tôi đã được chứng kiến đám tang chiêu hồn của một ngư dân không thể trở về sau cơn bão biển. Đám tang tràn ngập nước mắt, cũng có linh vị, quan tài nhưng lại không có thi hài người mất bên trong. Ông Võ Toại, người từng cúng tế cho hàng trăm đám tang chiêu hồn, tâm sự: “Với những bậc anh hùng đã hiến xác thân cho quần đảo Hoàng Sa của Tổ quốc, lễ tang chiêu hồn còn bi hùng, trang trọng hơn nhiều”.
Ông Toại kể đời mình vẫn tiếp truyền tang thức linh thiêng này. Để hương hồn các bậc anh hùng như Võ Văn Khiết, Phạm Quang Ảnh, Phạm Hữu Nhật… được an nghỉ, người xưa đã trèo lên tận miệng núi lửa trên đảo Lý Sơn, lấy đất tinh khiết về nặn thành hình nhân người chết. Họ còn dùng cành cây dâu cổ thụ làm xương cốt người chết bên trong. Người nam cũng có bảy cành dâu làm xương sườn, đàn bà chín cành… Và lòng đỏ trứng gà được trộn lẫn vào đất nặn hình nhân thay cho máu huyết người đã mất.
Đến giờ, lễ chiêu hồn tập thể cho các hải đội Hoàng Sa đã trôi qua lâu rồi, nhưng ký ức truyền đời của người dân Lý Sơn vẫn ghi nhớ bao chuyện bi hùng. Người xưa đặt hàng quan tài hùng binh quay đầu về đất liền Tổ quốc, mà có khi lên đến cả chục quan tài vì mỗi lần đi Hoàng sa thường cả đội thuyền với khoảng 60 người. Tuy nhiên, bên trong không phải thi hài mà là hình nhân bằng đất được người nhà kêu gọi tên tuổi, nguyện cầu hương hồn người hi sinh trở về an nghỉ! Mỗi hình nhân có một bài vị danh phận trên đầu. Buổi tiễn đưa hương hồn các hùng binh về nơi an nghỉ dưới lòng đất đẫm nước mắt người dân cả đảo vì hầu như tộc họ Lý Sơn nào cũng có người tham gia đội Hoàng Sa. Con cháu đời sau sẽ mãi mãi ghi nhớ “trang sử cát” tuy không có xương cốt, nhưng thấm đẫm hương hồn, hào khí linh thiêng của cha ông.
QUỐC VIỆT
__________
Thắp nén hương trên mộ cổ danh tướng Nguyễn Tri Phương để tự hào hiểu rằng Tổ quốc này chưa bao giờ lùi bước trước quân thù. Và sự thật khí tiết của vị đại tướng này đã được chính quân viễn chinh Pháp kể lại thế nào?
Kỳ tới: Ngôi mộ cổ vị danh tướng

Bí ẩn những ngôi mộ cổ - Kỳ 2: Sự thật trong quan tài cổCập nhật lúc 16-04-2012 17:49:29 (GMT+1)
Các bác sĩ và nhà khảo cổ đang làm rõ bí ẩn bên trong chiếc quan tài - Ảnh tư liệu của Đỗ Đình Truật

Nhưng sự thật vụ án tham nhũng chấn động triều Nguyễn của phó tổng trấn Gia Định, bố vợ vua Minh Mạng, vẫn chưa thể xóa nhòa dấu vết. Nhà khảo cổ Đỗ Đình Truật nhớ lại rất hồi hộp khi mở nắp quan tài thâm đen. Sự thật lịch sử gì sẽ phơi bày sau gần hai thế kỷ?

Chiếc thủ cấp và nhát chém
“Hôm ấy Sài Gòn mưa tầm tã. May mà chiếc quan tài đã kịp đưa về bệnh viện. Bên khảo cổ học có tôi và phó giáo sư Lê Xuân Diệm, phía bác sĩ có giáo sư Nguyễn Quang Quyền, ông rất giỏi về giải phẫu cơ thể học và kinh nghiệm trên xác ướp khảo cổ” - ông Truật nhớ khi nắp quan tài bật ra.
Họ ngỡ ngàng với đồ tùy táng đơn sơ, ngược lại với bề ngoài nấm mộ khá lớn trong cư xá Đô Thành. Phủ bên trên và dưới thi hài chỉ có hai lớp chiếu cói mỏng, một cái quạt, không có bất cứ châu báu, tiền bạc gì. Còn quần áo mặc theo chỉ vài lớp, rất khác với táng thức “gửi đồ cho người chết về suối vàng sử dụng” mà nhiều trường hợp ông Truật phải bóc hơn 30 lớp áo quần mới chạm đến thi hài.
Nhưng điều làm các nhà khảo cổ ngỡ ngàng nhất là không tìm thấy giấy tờ hay tài liệu, thẻ bài ghi thân phận người chết. Theo ông Truật, điều này rất lạ so với các mộ táng ông từng khảo cổ dù còn nguyên vẹn hay mục nát cũng đều có vết tích thân phận người quá cố. Xác ướp ở Xóm Cải, quận 5, tên người chết được định danh Nguyễn Thị Hiệu ghi trong tờ giấy đặt trên ngực. Với xác ướp ở Vụ Bản, Nam Định, người ta còn tìm thấy tấm minh tinh chôn theo có ghi Đặng thượng y phu nhân Phạm Thị Nguyên Chân...
Trước thực tế không thể định danh hài cốt trong quan tài này, các nhà khảo cổ lúc ấy đã phân tích một biến cố nào đó đã xảy ra và cái chết không bình thường nên người chết được an táng một cách lặng lẽ, buồn tủi như thế!
Tuy nhiên, mấu chốt để xác định hài cốt Huỳnh Công Lý chính là bộ xương trong quan tài. Ngay hiện trạng chỉ còn bộ xương trong quan tài nguyên vẹn và vỏ quách hợp chất đồ sộ cũng làm nhà khảo cổ suy nghĩ. Với táng thức trong quan ngoài quách bằng gỗ quý và hợp chất bền chắc, họ đã tìm thấy nhiều thi hài còn nguyên vẹn như xác ướp. Vậy tại sao trong này lại chỉ còn bộ xương?
Ông Truật lật lại sử liệu: sau khi xử trảm Huỳnh Công Lý, tổng trấn Lê Văn Duyệt cho đem thủ cấp về trình tội với vua Minh Mạng. Sau đó, thủ cấp này được hoàn lại cơ thể để an táng. Như vậy, nó được đưa đi, đưa về mất nhiều thời gian nên thi hài phải quàn lâu hoặc chôn tạm để chờ thủ cấp. Chính thời gian khá dài đó làm thi hài không được bảo vệ trong lớp quách hợp chất nên đã bị phân hủy.
Bộ xương được chôn đầu theo hướng tây nam, xương thân nằm ngửa nhưng hộp sọ lật mặt về phía trái. Chính giáo sư bác sĩ Nguyễn Quang Quyền kiểm tra xương cổ, tìm thấy một vết cắt ngang qua như bị đao chém đầu. Nhà khảo cổ Đỗ Đình Truật còn phát hiện vết máu trên cổ áo trong quan tài.
Chắp nối lại các sử liệu ghi chép Huỳnh Công Lý sau khi bị xử trảm được chôn cất ngay tại Sài Gòn, đặc biệt là các sử liệu định vị mộ quan tham này, các nhà khảo cổ đi đến kết luận họ đã tìm thấy nấm mộ và xương cốt Huỳnh Công Lý.

* Hài cốt tìm thấy trong quan tài - Ảnh tư liệu của Đỗ Đình Truật
Phía sau bản án
Sự thật bên trong mộ cổ là vậy, nhưng nghi án lạm quyền “tiền trảm hậu tấu” của Lê Văn Duyệt vẫn còn phải làm sáng tỏ. Đặc biệt, khi Lê Văn Duyệt qua đời, bị truy tội, nhiều người đã gán ông lồng ân oán riêng tư vào chuyện công để chém đầu Huỳnh Công Lý.
Trong quá trình tìm tư liệu, người viết đã tiếp cận một hồi ký đặc biệt của người nước ngoài đánh giá khách quan Huỳnh Công Lý. Đó là hồi ký Chuyến đi đến Nam Hà của trung úy thuyền trưởng John White, người Mỹ đầu tiên đến Sài Gòn năm 1819 trên chiếc thuyền Franklin. Là nhân chứng nước ngoài hai năm 1819-1820 ở thành phố mới này, John White ghi lại hồi ký rất nhiều khó khăn, nhũng nhiễu phải đối mặt. Đây chính là giai đoạn Lê Văn Duyệt về kinh thành, giao nhiệm vụ cho phó tổng trấn Huỳnh Công Lý.
Lần đầu gặp Huỳnh Công Lý, John White không mấy thiện cảm để ghi lại hồi ký rằng: “Vị phó tổng trấn ngồi xếp chân hai bên kiểu người Á, vuốt râu trắng lưa thưa. Ông là một người già ốm, nhăn nheo, rất thận trọng, điệu bộ, mặc dù có nở nụ cười nhưng không đáng tin cậy, không cho ta thấy một điều gì công chính và thành thật”.
Về sau gặp Lê Văn Duyệt từ Huế trở về, nếu như John White ca ngợi đức hạnh, tầm nhìn viên tổng trấn này bao nhiêu thì lại khinh thường Huỳnh Công Lý bấy nhiêu. Thậm chí thuyền trưởng người Mỹ còn kể chính viên phó quan này thông đồng với những kẻ bất chính gây khó khăn cho ông ta.
Một đoạn hồi ký John White còn kể Huỳnh Công Lý lên thăm tàu Franklin, trơ trẽn “mượn” khẩu súng săn hai nòng quý giá mà John White biết rằng mình sẽ vĩnh viễn mất nó.
Đặc biệt, tội trạng và bản án Huỳnh Công Lý cũng được các chính sử Đại Nam thực lục, Quốc sử triều toát yếu, Ngự chế văn vua Minh Mạng... khẳng định.
Đại Nam thực lục chép rõ năm 1820, Huỳnh Công Lý bị dân binh Gia Định tố cáo tham nhũng hơn ba vạn quan tiền, khi điều tra còn lòi tội bắt binh sĩ xây dựng nhà riêng, cơ sở buôn ngói ở bờ sông Hương. Vua Minh Mạng đã than giận: “Trẫm nuôi dân như con, thực không kể phí tổn. Nhưng bọn quan lại tham lam giảo quyệt chứa đầy túi riêng... Gần đây Hoàng (Huỳnh) Công Lý làm phó tổng trấn Gia Định không bao lâu mà bóc lột của dân đến trên ba vạn. Nếu các viên mục thú đều như y cả thì dân ta còn cậy vào đâu...”.
Cũng chính vua Minh Mạng minh xét án tham nhũng cần phải nhân chứng mà họ đều ở Gia Định, không dễ ra Huế, nên cử quan Bộ Hình Nguyễn Đình Thinh vào Gia Định tra xét. Sau đó vua Minh Mạng không những định án chết của Huỳnh Công Lý mà còn đuổi con gái ông ta là Huệ Phi trong cung ra làm thường dân.
Đặc biệt, trong Ngự văn chế sơ tập, vua Minh Mạng đã khẳng định “quân pháp bất vị thân” với đình thần: “Từ nay bất kể quân lính trong ngoài, gặp các viên quan biền tham lam ngược đãi như vậy mà phải chỗ quyền thế không nói ra được thì cho phép tâu trình, trẫm sẽ tìm ra căn nguyên để trị tội kẻ tham nhũng”.
Vụ án tham nhũng và sự đền tội của quan tham Huỳnh Công Lý từ gần hai trăm năm trước vẫn còn vẳng đến mai sau...
Nguồn: Quốc Việt/ T

Dòng chảy thời gian với biết bao biến động thời cuộc đầy máu, nước mắt và chiến tranh đã trôi qua kể từ khi Huỳnh Công Lý bị xử trảm vào năm Minh Mạng thứ hai (1821).

  • TT - Gần hai thế kỷ trước, triều Minh Mạng rúng động với vụ án tham nhũng của viên quan đại thần Huỳnh (Hoàng) Công Lý. Đương chức phó tổng trấn Gia Định, Lý đã bòn rút tiền bạc dân binh. Khi điều tra, ông còn lòi thêm tội lộng quyền, tham nhũng ngay tại kinh thành.
  • Đặc biệt, vụ án tham nhũng này còn gây rúng động hơn bởi chính bản án xử tử nghiêm minh mà triều đình Minh Mạng đã “quân pháp bất vị thân” cho một đại thần nhiều công trạng và đang là bố vợ của chính nhà vua.
    Tuy nhiên khi Lê Văn Duyệt mất, bị truy xét công tội, phải xích mồ, cũng xuất hiện dư luận xét lại vụ án Huỳnh Công Lý. Phải chăng ông đã nặng tay xử trảm vị phó của mình với nghi án “dám lăng nhăng với thê thiếp Lê Văn Duyệt”. Sự thật vụ trọng án tham nhũng chấn động lịch sử này thế nào? Và bí ẩn dưới ngôi mộ cổ hoang phế giữa Sài Gòn đã góp phần giải mật điều gì?
    Lần tìm dấu tích
    “Từ hồi còn học lịch sử, tôi đã đặc biệt quan tâm vụ án phó tổng trấn Gia Định Huỳnh Công Lý. Đó là trọng án tham nhũng mà tổ tiên đã công tâm minh xử để con cháu đời sau phải suy ngẫm, ghi nhớ. Là võ tướng, Lý từng có công đánh giặc biên viễn cũng như chỉ huy đào thành công con kênh quan trọng bậc nhất ở Sài Gòn, nhưng quan trọng hơn cả Lý chính là bố vợ của vua Minh Mạng. Ấy vậy mà khi phạm tội Lý vẫn bị nghị xử công khai. Rồi sau khi bị Lê Văn Duyệt chém đầu, Lý vẫn bị Minh Mạng nhiều lần nhắc lại tội lỗi như là bài học răn dạy cho chính hoàng thân quốc thích của mình” - đã qua tuổi 80, nhà khảo cổ Đỗ Đình Truật vẫn nặng nhớ chi tiết vụ án tham nhũng lịch sử mà ông đã nhiều năm đau đáu nghiên cứu, giải mật.
    Trong cuốn Sài Gòn năm xưa, Vương Hồng Sển cũng viết lại rằng: “Gần Tam Tông miếu, mấy năm về trước còn thấy một ngôi mộ xây ô dước to lớn, vì chồm ra lộ cái quá nhiều nên bị cải táng. Hỏi ra đó là mả Huỳnh Công Lý. Công Lý là quan to có con gái hầu đức Minh Mạng, được vua sủng ái nên cậy thế ỷ thần. Theo cụ Trương Vĩnh Ký chép lại, Lê tả quân mắc ra chầu vua ngoài Huế, Công Lý ở lại Sài Gòn có làm nhiều điều ngang dọc và dường như có xúc phạm đến một cô hầu của tả quân. Khi về quan lớn thượng hay được cả giận bèn tâu tự sự lên vua Minh Mạng. Ông vua này có ý binh vực cha vợ nên hạ chỉ giải Công Lý ra kinh đặng dễ bề tha tội. Tả quân biết trước, sẵn có trong tay thượng phương bảo kiếm được quyền “tiền trảm hậu tấu”, bèn chém đầu Huỳnh Công Lý, sai quân đóng thùng ướp muối, gửi thủ cấp về kinh, trên nắp thùng viết mấy chữ: “Phụng thừa thánh chỉ, xử trảm tội nhân”. Minh Mạng thấy sự đã rồi, trong lòng căm giận, nhưng không làm gì được Lê Công. Sau Bố chánh Bạch Xuân Nguyên đem chuyện này ra kết tội khi quân cho Lê Công và vu thêm nhiều tội lớn nữa...”.
    Khoan chưa bàn đến nghi án Lê Văn Duyệt nhập nhằng chuyện công, chuyện riêng để xử chết Huỳnh Công Lý mà Vương Hồng Sển ghi lại từ tài liệu của Trương Vĩnh Ký, nhưng chính cuốn Sài Gòn năm xưa đã khẳng định viên quan tham này được chôn cất ngay tại pháp trường Sài Gòn. Thậm chí, mộ Huỳnh Công Lý còn rất to lớn, ở ngay khu vực sau này là chợ Vườn Chuối và cư xá Đô Thành. Là người học sử và làm khảo cổ, ông Truật đã lần từ những manh mối này. Ông có niềm tin rằng chính những trang sử đất của kết quả khảo cổ sẽ góp phần quan trọng làm sáng tỏ sự thật lịch sử đã được thư tịch, chính sử và chuyện người đời sau kể lại. Ngay sau năm 1975, từ miền Bắc vào TP.HCM, ông Truật đã lần tìm dấu vết ngôi mộ tội nhân tham nhũng Huỳnh Công Lý. Chắp nối lại các tài liệu, ông Truật tin Vương Hồng Sển ghi địa điểm chôn cất Lý là chính xác, đó chính là khu mả hầu không xa mấy khu “mả ngụy”, mà sau này đã chôn vùi hàng ngàn binh tướng cùng thân nhân già trẻ của “phiến quân” Lê Văn Khôi khi thua trận bị triều Nguyễn xử trảm tập thể dã man.
    Tuy nhiên, có một điều ông Truật chưa tin lắm đó là chi tiết Vương Hồng Sển ghi mộ của Huỳnh Công Lý được cải táng. Nếu đã cải táng thì cải táng ở đâu? Tại sao không có tài liệu nào ghi lại điều này? Hơn nữa, việc khai mở một ngôi mộ bề thế bằng hợp chất ô dước kiên cố ngày xưa không hề đơn giản. Đặc biệt, đã nói là cải táng mà tại sao một phần mộ vẫn còn nằm ngay chỗ cũ?
    Dưới nấm mộ hoang
    Suốt mấy năm, nhà khảo cổ Đỗ Đình Truật cố gắng khai quật phần mộ còn lại này để làm sáng tỏ sự thật nhưng chưa có điều kiện thích hợp. Bất ngờ đến khoảng cuối thập niên 1970, việc chỉnh trang đô thị đã cho phép ông cùng các đồng nghiệp như phó giáo sư khảo cổ Lê Xuân Diệm, giáo sư bác sĩ Nguyễn Quang Quyền tiến hành khai quật, làm sáng tỏ sự thật lịch sử dưới nấm mộ cổ đã hoang vỡ.
    “Lúc ấy chưa nhiều phương tiện cơ giới phá công trình kiên cố như giờ. Nhưng nếu sẵn, chúng tôi cũng không sử dụng vì tác động cơ học quá mạnh có thể ảnh hưởng đến những gì còn lại trong quan tài” - ông Truật nhớ ngoài đội khảo cổ, đã phải thuê thêm công nhân xây dựng khỏe mạnh sử dụng đục thép cẩn thận phá từng mảnh nhỏ phần quách nấm mộ. Đó là hợp chất ô dước mà người Việt xưa thường hay sử dụng để xây dựng các công trình kiên cố, kể cả lăng mộ. Nó được làm từ những thành phần chính như vôi, cát, mật, than gỗ quý, kể cả các vỏ sò biển giã nhuyễn. Khi các thành phần này được trộn lẫn với nhau theo đúng công thức tốt sẽ tạo thành một hợp chất kết dính như bêtông. Nhưng hợp chất còn tốt hơn cả bêtông vì nó có độ dẻo dai, bền bỉ, ít bị nứt vỡ như bêtông đến lúc lão hóa. Quan tài được bao bọc bởi lớp quách hợp chất này thường chống được sự xâm thực của nước, không khí, vi khuẩn phá hoại. Chính vì vậy, nhiều xác ướp đã được phát hiện ở VN đều có sự bảo vệ bởi lớp quách này.
    Đục ròng rã suốt nhiều ngày liền, cuối cùng quan tài mới lộ thiên. Đội khảo cổ rất vui mừng khi thấy quan tài làm bằng gỗ trai vẫn còn nguyên vẹn, kể cả phần hoa văn bên ngoài cũng còn thấy rõ. Như vậy lần đập phá mộ để làm đường trước đây đã không phạm đến quan tài. Và chỉ khi quan tài còn tốt, các nhà khảo cổ mới hi vọng có thể tìm thấy sự thật bên trong.
    Ông Truật nhớ đó là một quan tài làm bằng gỗ trai dày gần cả 0,1m, có màu đen thâm và rất nặng, được chôn sâu 3m dưới mặt đất, đầu quay về hướng tây nam. Đội khảo cổ đã phải mất gần cả buổi sáng mới khéo léo đưa được chiếc quan tài nguyên vẹn lên mặt đất. Thời tiết và điều kiện lúc đó không cho phép họ tìm hiểu bên trong quan tài ngay tại hiện trường, nên quan tài được chuyển ngay về bệnh viện để nghiên cứu.
    Đến lúc này nhóm khảo cổ mới chỉ có một số cơ sở tạm tin một phần rằng đó là mộ Huỳnh Công Lý. Và sự thật bí ẩn gì đang chôn giấu trong chiếc quan tài cổ thâm đen?
    QUỐC VIỆT
    Theo Tuổi Trẻ Online
    Thủ cấp quan tham bị đem về kinh. Vậy cái gì nằm trong quan tài? Sự thật Huỳnh Công Lý trong con mắt thuyền trưởng người Mỹ đầu tiên đến Sài Gòn và chịu khổ sở với viên quan tham...
    Kỳ tới: Sự thật bên trong chiếc quan tài

Search Box

Loading